Cóng nghệ xử lý chất thải nhiểm dầu

Chất thải rắn nhiễm dầu được xếp vào danh mục chất thải nguy hại cần phải được quản lý chặt chẽ từ khâu phát sinh, lưu giữ, vận chuyển đến khâu xử lý.

Thực tiễn công tác quản lý chất thải nguy hại trong nước và quốc tế cho thấy, việc từng cơ sở sản xuất, kinh doanh có phát sinh chất thải rắn nhiễm dầu (cũng như chất thải rắn nguy hại nói chung) tự đầu tư trang bị hệ thống xử lý cho đơn vị mình, trong nhiều trường hợp không phải là sự lựa chọn hợp lý về mặt kinh tế, kỹ thuật và môi trường. Ngoài ra, do tính chất đặc thù, nhiều loại chất thải rắn nhiễm dầu có thể được xử lý và tái sử dụng thành các loại nhiên liệu có giá trị. Các chất thải rắn nhiễm dầu mỡ một khi thải ra môi trường sẽ gây ô nhiễm rất nghiêm trọng do quá trình phân huỷ các hợp chất dầu mỡ kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đất, nước, không khí. Trước mắt, cần có ngay các quy định nghiêm ngặt về việc thu gom và lưu giữ chất rắn nhiễm dầu đối với các cơ sở có phát sinh chất thải rắn nhiễm dầu. Ngoài ra, cần khuyến khích và hỗ trợ thúc đẩy hướng nghiên cứu dùng các chế phẩm sinh học xử lý chất thải rắn nhiễm dầu. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý nước thải nhiễm dầu và cặn dầu không chỉ giúp các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ (mà việc thu gom, lưu giữ và vận chuyển đến khu xử lý tập trung là không kinh tế) xử lý tại chỗ các chất thải nhiễm dầu của đơn vị mình mà còn có ý nghĩa lớn hơn là chuẩn bị những chế phẩm sinh học phù hợp với điều kiện Việt Nam có thể áp dụng trong thực tế xử lý khắc phục hậu quả ô nhiễm và khôi phục môi trường.

Đối với chất thải rắn nhiễm dầu là các loại giẻ lau dầu mỡ, nếu sử dụng phương pháp chôn lấp sẽ gây ô nhiễm đến môi trường đất, nước, phương pháp tốt nhất là sử dụng lò đốt chất thải được thiết kế phù hợp. Ưu điểm của phương pháp đốt trong lò đốt hợp vệ sinh là chuyển hoá hoàn toàn các khí độc hại thành CO2 và H2O. Kết hợp với các phương pháp hấp thụ các chất khí độc hại khác sẽ làm giảm được lượng chất khí độc thải ra môi trường.

3.1 Phương pháp thiêu đốt chất thải rắn

    Một trong những phương pháp hiệu quả để giảm thể tích và trọng lượng chất thải rắn là đốt chúng trong những lò đốt ở những nhiệt độ thích hợp. Quá trình này được gọi là quá trình thiêu đốt. Phương pháp này nhìn chung khá đắt tiền do phải kèm theo những thiết bị để kiểm soát sự nhiễm bẩn không khí. Đồng thời những kỹ thuật viên vận hành lò đốt cũng đòi hỏi có kỹ thuật vận hành và sự quan sát theo rõi chặt chẽ. Ở Mỹ 16% chất thải rắn được xử lý bằng phương pháp đốt hàng năm, ở Nhật là 75% (số liệu năm 1993).

            Thiêu đốt chất thải được định nghĩa là quá trình oxy hoá có kiểm soát để loại trừ các chất độc hại, làm giảm thể tích hoặc khử cầu trúc các chất thải rắn, lỏng, khí độc hại. Quá trình cháy sẽ phá huỷ các chất vô cơ tạo thành tro vô cơ và các sản phẩm khí CO2, H2O, SO2, HCL...làm giảm thể tích các chất thải.

            Đốt thực chất là một quá trình hoá học mà trong đó một phần chất thải có khả năng cháy kết hợp với oxy để hoá thành CO2 và H2O. Phản ứng hoá học này gọi là phản ứng oxy hoá. Phản ứng này sản sinh một lượng nhiệt rất lớn, còn khí CO2, hơi nước được thoát ra bên ngoài đi vào không khí. Để quá trình oxy hoá xảy ra hoàn toàn, chất thải cần phải trộn với một lượng không khí vừa đủ, ở nhiệt độ thích hợp và duy trì trong một thời gian hợp lý. Nhiệt độ của lò đốt thông thường khoảng 815 0C (1500 0F) và chất thải lưu giữ trong lò khoảng 1 giờ. Đối với một số chất thải rắn khác, nhiệt độ thiêu đốt có thể lên tới 1400 0C (2550 0F). Sự thiêu đốt có thể làm giảm thể tích chất thải khoảng 95% thậm trí cao hơn.

            Trong lò đốt, quá trình cháy xảy ra theo 02 giai đoạn: Giai đoạn đốt sơ cấp và giai đoạn đốt thứ cấp. Trong giai đoạn đốt sơ cấp, hơi nước bị tách ra, những chất dễ cháy khác sẽ bay hơi và bị đốt. Trong giai đoạn thứ cấp, các khí và phần không bị cháy còn lại sau giai đoạn đốt sơ cấp sẽ bị oxy hoá tiếp. Giai đoạn đốt thứ cấp có tác dụng loại mùi và khử một lượng lớn những phần không bị cháy ở giai đoạn sơ cấp, tạo điều kiện phân huỷ hoàn toàn chất thải rắn và các chất độc hại.

   Quá trình đốt không có khả năng phân huỷ hoàn toàn các chất thải rắn để tạo thành sỉ ở đáy lò. Phần chất thải rắn còn lại không bị phân huỷ bao gồm thuỷ tinh, kim loại, các hạt khoáng vô cơ nhỏ mịn và các chất không bị cháy khác. Phần tro còn lại ở đáy lò khoảng 5 ÷ 10% so với thể tích ban đầu của chất thải rắn. Còn một loại tro khác của quá trình đốt là tro bay được đi theo dòng khí ra khỏi lò đốt. Đôi khi cò sự có mặt của các kim loại nặng trong phần tro ở đáy lò như chì, catdimi, crom.v.v...là những chất độc nguy hiểm. Ngoài ra dioxy cũng có thể có mặt trong phần tro, dó đó cần loại trừ sự có mặt của các kim loại nặng trong chất thải rắn mang thiêu đốt.

3.2 Phương pháp lựa chọn lò đốt

a. Lò đốt công suất nhỏ

Với lò có quy mô xử lý khoảng 300 kg/ngày, có thể ứng dụng công nghệ xử lý gồm thiết bị venturi thấp áp, tháp đệm, quạt khói, bơm, bể tuần hoàn và hệ thống van gió.

Nguyên lý làm việc là: Khói lò sau khi ra khỏi buồng thứ cấp qua van gió, đi vào thiết bị venturi để lọc bụi đồng thời hạ nhiệt độ. Từ venturi, nước và khí chuyển sang tháp lọc. Cấu tạo của tháp lọc gồm lớp đệm bằng khâu sứ, giàn phun nước và bộ tách nước. Tại tháp, một phần nước cùng với bụi sẽ chảy xuống bể lắng còn khí sẽ đi ngược lên qua lớp đệm, nơi nó được hạ nhiệt độ, lọc phần bụi còn lại và các chất khí như SO2, HCl. Chất ô nhiễm được nước hấp phụ chảy xuống bể lắng, còn không khí sạch sẽ được đẩy vào ống khói qua quạt và thải vào khí quyển.

Thiết bị xử lý khí thải lò thiêu này có thể lắp bổ sung vào hệ thống lò thiêu mà không làm thay đổi đáng kể cấu trúc của thiết bị lò. Khi cần thiết có thể bổ sung hóa chất vào bể để xử lý khí độc hại.

b. Lò đốt công suất lớn

Với lò thiêu có quy mô xử lý trên 1.000 kg/ngày, thường được thiết kế hoàn chỉnh và đồng bộ từ khu vực tập kết rác, lò đốt, thiết bị xử lý, khu vực lấy tro, buồng điều khiển trung tâm... Phần nhiều các khâu được cơ giới hóa hoặc tự động hóa. Nhiệt độ thiêu đốt trung bình của loại lò này lớn hơn 1.000 0C, thời gian lưu khí 1-2 giây.

Hệ thống xử lý khí thải bao gồm: Thiết bị lọc bụi (lọc khô dạng túi vải hoặc tĩnh điện) và thiết bị lọc khí độc như SO2, HCl (dùng vôi bột và than hoạt tính). Các chất này được phun vào buồng hòa trộn sau đó thu lại bằng thiết bị lọc bụi để tuần hoàn. Vôi có tác dụng hấp phụ các khói axít, than hoạt tính hấp phụ dioxin và furan. Hệ thống xử lý còn được lắp các thiết bị báo nhiệt độ, nồng độ một số loại khí như carbon để giám sát chất lượng khí thải và hiệu quả phân hủy của lò.

 c. Lò đốt công suất trung bình

Với lò có quy mô xử lý khoảng 300 đến 1.000 kg/ngày có thể dùng loại đáy tĩnh, có cấu tạo nhiều loại buồng đốt, nhiệt độ buồng đốt khí đạt trên 1.000 0C. Thời gian lưu của khí trong buồng đốt từ 1-2 giây. Hệ thống xử lý khí thải về nguyên tắc cùng nguyên lý với lò công suất lớn đã giới thiệu ở trên. Xử lý chất thải rắn độc hại bằng phương pháp thiêu đốt vẫn là biện pháp chưa thay thế được vì nó có nhiều ưu điểm. Do đó việc nâng cao hiệu quả quản lý và nghiên cứu áp dụng các công nghệ phụ nhằm xử lý khí thải từ lò thiêu đốt sẽ giúp cho quá trình xử lý hoàn thiện hơn, bảo vệ tốt môi trường không khí.

Mọi chi tiết xin liên hệ : Công ty môi trường sông hồng

dệt may thắng lợi

 
 

Thống kê

001332725
Today
Yesterday
This Week
This Month
175
652
3110
26172

Liên Hệ

Công ty Môi Trường Sông Hồng
Office: 44/20 Nguyễn Ảnh Thủ, P.Hiệp Thành, Quận 12, Tp.HCM
Hotline: 0909.32.1616
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.