Xử lý tràn dần trên biển như thế nào ?

Từ năm 1997 đến nay ở nước ta đã xảy ra hơn 50 vụ tràn dầu tại các vùng sông và biển ven bờ gây thiệt hại lớn về kinh tế cũng như ô nhiễm nghiêm trọng và lâu dài cho sinh thái biển.

Ứng phó với sự cố tràn dầu đang trở nên cấp bách hơn lúc nào hết khi Việt Nam chính thức tham gia lộ trình hội nhập hàng hải quốc tế. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Nguyễn Công Thành đã nhấn mạnh như vậy tại “Hội thảo quốc tế trao đổi kinh nghiệm trong Phát triển, Ứng phó, Xử lý và Khắc phục ô nhiễm sự cố tràn dầu trên biển” do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức trong hai ngày 28 – 29/2, tại Hà Nội. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm 1997 đến nay đã xảy ra hơn 50 vụ tràn dầu ở Việt Nam, đã gây ra tổn thất lớn về sinh thái và kinh tế xã hội. Nguyên nhân dẫn đến sự cố tràn dầu là do va chạm trong quá trình bốc dỡ và đắm tàu. Điển hình là các sự cố tàu Formosa one Liberia đâm vào tàu Petrolimex 01 của Việt Nam tại vịnh Giành Rỏi - Vũng Tàu (tháng 9/2001) làm tràn ra môi trường biển ven bờ khoảng 1.000m3 dầu diezel, gây ô nhiễm nghiêm trọng một vùng rộng lớn biển Vũng Tàu; 3 năm sau, tại khu vực biển Quảng Ninh - Hải Phòng, sự cố đắm tàu Mỹ Đình, chứa trong mình khoảng 50 tấn dầu DO và 150 tấn dầu FO, trong khi đó ta chỉ xử lý được khoảng 65 tấn, số dầu còn lại hầu như tràn ra biển... Đặc biệt trong 2 năm 2006 và 2007, tại ven biển các tỉnh miền Trung và miền Nam đã xảy ra một số sự cố tràn dầu bí ẩn, nhất là từ tháng 1 đến tháng 6/2007 có rất nhiều vệt dầu trôi dạt dọc bờ biển của 20 tỉnh từ đảo Bạch Long Vĩ xuống tới mũi Cà Mau và đã thu gom được 1720,9 tấn dầu. Qua phân tích 26 ảnh chụp từ vệ tinh ALOS-PALSAR trong thời điểm từ 6/12/2006 - 23/4/2007, PGS - TS Nguyễn Đình Dương, Phòng Nghiên cứu và Xử lý Thông tin Môi trường, Viện Địa lý đã ghi nhận được vết dầu lớn nhất phát hiện vào ngày 8/3/2007 với chiều dài hơn 50 km và bề rộng hơn 1 km. Căn cứ vào vết dầu loang gây ô nhiễm trên biển cùng bề dày của vết dầu, ước tính có từ 21.620 - 51.400 tấn dầu đã tràn trên biển. Tuy nhiên, do hành lang pháp lý của Việt Nam còn yếu nên có tới 77% sợ cố tràn dầu trên hải phận nước ta chưa được bồi thường hoặc đang trong quá trình giải quyết. Từ tính chất gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển và thiệt hại nặng về kinh tế, ngày 29/8/2001, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 129/2001/QĐ-TTg phê duyệt quốc gia về ứng phó sự cố tràn dầu 2001-2010. Đến ngày 2/5/2005, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 103/2005/QĐ-TTg về qui chế ứng phó sự cố tràn dầu. Theo Quyết định 129 và 103 của Thủ tướng Chính phủ, việc tổ chức ứng phó được tổ chức ở 3 cấp: cấp cơ sở (địa phương), cấp khu vực và cấp quốc gia. Cấp cơ sở xử lý tràn dầu dưới 100 tấn, cấp khu vực xử lý từ 100 - 2.000 tấn và cấp quốc gia xử lý 2.000 tấn trở lên. Theo các chuyên gia về môi trường biển, nguyên nhân chủ yếu khi sự cố tràn dầu xảy ra, Việt Nam còn thiếu trang thiết bị và yếu về năng lực xử lý, nên chưa bao giờ xử lý được triệt để. Các chuyên gia phân tích rằng, các thiết bị cô lập và thu hồi dầu loang trên biển như các nước trên thế giới vẫn thường dùng rất đắt nhưng ta chưa đầu tư đầy đủ. Được biết, từ đầu năm 2008, một trạm quan trắc sự cố tràn dầu được đặt tại Từ Liêm, Hà Nội bắt đầu đi vào giai đoạn hoạt động trong 18 tháng, đang xúc tiến hợp tác với Pháp để nâng cấp khả năng quan trắc và tìm nguyên nhân, nguồn gốc các sự cố tràn dầu. Hiện tại, Trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu tại miền Bắc và miền Trung đang được thành lập, còn trung tâm tại miền Nam đã đi vào hoạt động từ năm 2006. Hiện tại, một số phương tiện ứng phó dầu tràn nhỏ được nghiên cứu chế tạo như tàu thu gom váng dầu tại các cảng biển khi xảy ra sự cố tràn dầu, tàu cứu hộ ứng phó lắp máy công suất 800 CV và 3.200 CV được trang bị cho Tổng Công ty Dầu Việt Nam. Tại các Trung tâm ứng phó tràn dầu quốc gia đã được đầu tư trang thiết bị phục vụ gồm 2 tàu loại trung cho Trung tâm ứng phó tràn dầu miền Trung, 2 tàu lớn cho Trung tâm miền Nam cùng với các thiết bị đi kèm như phao quây, bồn chứa, máy hút... Tuy vậy, tàu có khả năng đáp ứng được ứng phó tràn dầu trên diện rộng, xa bờ với điều kiện sóng gió lớn (chiều cao sóng đến 4m), chiều cao phao quây dầu có thể cao tới 1.200mm-1.500mm, phần dưới mặt nước 800-1.000mm, chiều dài phao quây khoảng 600-800m cùng các thiết bị khác, Việt Nam chưa được đầu tư đồng bộ, đầy đủ.

Để biết thêm chi tiết tại Dịch vụ môi trường 

Làm sao xử lý khí thải So2 trong lò đốt công nghiệp

Các khu công nghiệp ở nước ta hiện nay đang phát triển một cách đồng bộ .Nhiều khu công nghiệp phát triển tạo cho người nông dân có công việc ổn định.

Nhưng chúng ta cần xử lý rác thải một cách công nghiệp .Khi đốt các rác thải này chúng thường có SO2 phát sinh từ các lò đốt công nghiệp - là nguồn ô nhiễm và tác nhân gây ra hiện tượng mưa axit, phá hủy các công trình xây dựng.

 Theo nghiên cứu các nhà môi trường đã có 3 phương pháp xử lý khí SO2 gồm: Phương pháp khô, phương pháp ướt và phương pháp bán khô thì phương pháp ướt được sử dụng nhiều nhất do nó có nhiều ưu điểm như hiệu quả cao, dễ vận hành, có thể làm việc liên tục.Tuy nhiên, phương pháp này vẫn còn tồn tại một số nhược điểm như sử dụng nhiều năng lượng và nguyên liệu; đòi hỏi hệ thống xử lý nước thải sau khi xử lý; dễ đóng cặn trên đường ống cấp dung dịch nếu sử dụng chất kiềm như vôi làm vật liệu hấp thụ.

Hơn nữa do mục tiêu phát triển bền vững, tiết kiệm năng lượng và nguyên, nhiên vật liệu nên phương pháp bán khô và khô đã dành được nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý cũng như kỹ thuật. Tuy vậy, trong hai phương pháp này thì phương pháp bán khô được nghiên cứu nhiều hơn do phương pháp này có những ưu điểm như hiệu suất cao, trở lực thấp, hoạt động liên tục, có thể xử lý khí thải có lẫn bụi....

Với phương pháp bán khô, khí SO2 sẽ được xử lý theo nguyên lý: huyền phù được phun vào tháp xử lý thông qua hệ vòi phun, các hạt huyền phù này sẽ tương tác với pha khí và SO2 sẽ bị hấp thụ vào trong huyền phù, sau đó dưới tác dụng của nhiệt thừa trong khí thải sẽ làm bay hơi nước trong các hạt huyền phù.

Thông qua nghiên cứu xử lý SO2 trong khí thải lò đốt công nghiệp bằng phương pháp bán khô đã nhóm nghiên cứu đã thu được kết quả: hiệu suất xử lý SO2 có thể đạt tới 95,1%, nông đồ SO2 thấp nhất trong khí thải lò đốt công nghiệp sau khi xử lý và thải ra ngoài môi trường đạt 56ppm (tương đương 158mg/m3) - thấp hơn giá trị cho phép khi thải ra môi trường.
Để biết cách xử lý khí thải triệt để tại công ty môi trường sông hồng

Xử lý chất thải nhựa thành xăng máy bay

Tương lai con người sẽ biến những túi nilon và sản phẩm phế thải bằng nhựa sẽ trở thành nguồn cung cấp xăng cho máy bay, nếu ý tưởng của một kỹ sư Anh trở thành hiện thực.

Andy Pag, một kỹ sư tại Anh, nảy ra ý tưởng chiết xuất nhiêu liệu dành cho máy bay từ những loại rác nhựa - thứ mà các nhà máy tái chế rác không thu gom nên thường bị vứt ra bãi rác. Sau đó ông sẽ bơm loại xăng được chiết xuất từ nhựa phế thải vào một máy bay mini để chu du khắp nước Anh.

“Nhựa và các loại nhiên liệu hydrocarbon đều có cấu trúc hóa học giống nhau. Chúng cùng được tạo nên bởi những chuỗi nguyên tử hydro và carbon, nhưng cách sắp xếp các nguyên tử của chúng khác nhau. Tôi sẽ đập tan chuỗi nguyên tử của nhựa rồi sắp xếp lại để tạo ra xăng dành cho động cơ máy bay”, MSNBC dẫn lời Pag.

Andy Pag mơ ước khám phá nước Anh trên chiếc máy bay mini 
sử dụng xăng được chiết xuất từ nhựa phế thải. 

“Đây là kỹ thuật mà người Đức áp dụng trong Thế chiến thứ hai để tạo ra nhiên liệu diesel từ than đá”, Pag cho biết.

Nếu con người tìm ra cách tận dụng nhựa phế thải, lượng carbon dioxide (CO2) trong không khí sẽ giảm, Pag giải thích. Nếu các túi nilon bị chôn dưới đất, chúng sẽ tạo ra khí metan (NH4) và CO2 trong quá trình phân hủy.

Khi nhựa bị biến thành nhiên liệu, nó vẫn thải ra khí CO2 trong bầu khí quyển. Nhưng bù lại con người sẽ không phải sử dụng một lượng xăng, dầu nhất định dưới lòng đất. Do lượng nhiên liệu đó không được sử dụng, nó sẽ giúp con người tiết kiệm được một khoản tiền, đồng thời giảm bớt lượng khí CO2 trong không khí.

Với một hành tinh chứa tới 7 tỷ người và hơn 1 tỷ phương tiện cơ giới như trái đất, giải pháp biến nhựa phế thải thành nhiên liệu của Pag không thể giảm sự phụ thuộc của loài người vào than đá, dầu mỏ.

“Chúng ta không thể tìm ra một giải pháp có thể thỏa mãn mọi yêu cầu. Nhưng nếu tìm ra một giải pháp hữu ích thì tôi sẽ khai thác nó một cách triệt để”, Pag khẳng định.

Pag không phải là loại người nghĩ ra ý tưởng rồi để nó trong tâm trí. Ông từng lái một xe tải chạy bằng chocolate qua sa mạc Sahara ở châu Phi và chu du khắp thế giới trên một xe buýt chạy bằng dầu thực vật đã qua sử dụng.

Mọi chi thiết xin liên hệ : Xử lý chất thải

Thiết kế bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh nhất

Quá trình sinh hóa, hình thành các khí chủ yếu bãi chôn lấp xảy ra 5 giai đoạn:

-Giai đoạn 1: phân hủy hiếu khí

Giai đoạn này có thể kéo dài một vài ngày cho đến vài tháng, phụ thuộc vào tốc độ phân hủy. trong giai đoạn này các thành phần hữu cơ phân hủy với điều kiện hiếu khí bởi vì một lượng không khí bị giữ lại trong bãi rác trong quá trình chôn lấp. Nguồn vi sinh vật chủ yếu thực hiện trong quá trình phân hủy này có trong thành phần hữu cơ của rác ngay từ khi rác được thu gom.

-Giai đoạn 2: giai đoạn phân hủy kị khí.

Khi lượng oxy trong rác bị cạn kiệt thì sự phân hủy chuyển sang dạng phân hủy kỵ khí. Trong giai đoạn này, nitrate và sulfate thường bị khử thành khí nitrogen N2 và H2S. Khi thế oxy hóa khử giảm, cộng đồng vi khuẩn thực hiện quá trình thủy phân và chuyển hóa các hợp chất cao phân tử do các enzyme trung gian thành các hợp chất đơn giản hơn thích hợp cho các vi sinh vật. chúng sẽ dung các chất đơn giản này như chất dinh dưỡng, nguồn năng lượng và carbon cho tế bào chúng. Trong giai đoạn này pH của nước rò rỉ sẽ giảm xuống do sự hình thành các acid hữu cơ và ảnh hưởng của sự tăng nồng độ CO2 trong bãi rác.

-Giai đoạn 3: lên men acid của rác

Khí được sinh ra trong giai đoạn này là CO2, một lượng nhỏ H2, H2S cũng được hình thành. Vi sinh vật hoạt động chủ yếu là tùy tiện và hiếu khí, pH của nước rò rỉ sẽ giảm xuống <5. BOD5, COD, và độ dẫn điện tăng lên đáng kể và một số thành phần vô cơ, chủ yếu là kim loại nặng sẽ được hòa tan trong giai đoạn này.

-Giai đoạn 4: lên men Methanen (CH4)

Vi sinh vật hoạt động trong giai đoạn này chủ yếu là kị khí (vi khuẩn methane). Ở đây, sự hình thành methane và acid diễn ra đồng thời mặc dù sự hình thàh acid giảm đáng kể. Do các acid và hadrogen bị chuyển hóa thành CH4 và CO2 nên pH nước rò rỉ đạt giá trị trung bình từ 6,8 đến 8. Giá trị BOD5, COD, nồng độ kim loại nặng giảm xuống.

-Giai đoạn 5: giai đoạn ổn định.

Giai đoạn ổn định xảy ra sau khi các vật liệu hữu cơ dễ phân hủy sinh học được chuyển hóa thành CH4 và CO2.

Sự tạo thành khí của chất thải

Khí sinh học được tạo ra do quá trình phân hủy các chất hữu cơ qua 5 giai đoạn phân hủy ở trên. Bao gồm các khí: NH3, CO2, N2, CO, H2S, CH4…trong đó khí metan chiếm tỷ lệ cao nhất.

 Để biết thê chi tiết tại : Công ty môi trường sông hồng

Làm thế nào để kiểm soát Ô zôn nhà máy xử lý nước thải

Trên thực tế hiện nay, có rất nhiều nhà máy xử lý nước thải tại các thành phố sử dụng hệ thống xử lý Ôzôn để sản xuất nước sạch cho người dùng là các hộ dân cư và khu công nghiệp.

Trong khi tất cả các loại hệ thống xử lý nước đều có những lợi thế và bất lợi của họ, hệ thống Ôzôn (O3) được biết đến như một hệ thống rất ưu việt với việc cung cấp hệ thống khử trùng hữu hiệu và tránh một số vấn đề về sản phẩm phụ hóa học khi sử dụng chất clo.

Rất nhiều hệ thống nước sinh hoạt công cộng sử dụng ôzôn để khử vi khuẩn thay vì sử dụng clo. Ôzôn không tạo thành các hợp chất hữu cơ chứa clo, nhưng chúng cũng không tồn tại trong nước sau khi xử lý, vì thế một số hệ thống cho thêm một chút clo vào để ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn trong đường ống.

Ôzôn là một phân tử không ổn định có thể dễ dàng chuyển đổi thành oxy. Là một chất ôxi hóa, nó trở thành một chất khử khuẩn mạnh có thể khử các vi sinh vật nguy hiểm trong nguồn cung cấp nước thô để xử lý nhằm mang lại nguồn nước sinh hoạt an toàn hơn cho người tiêu dùng.

Ôzôn có tính ôxy hóa mạnh hơn ôxy, do cấu trúc phân tử không bền, dễ dàng bị phân huỷ thành ôxy phân tử và ôxy nguyên tử.

O3= O2 + O

Sản xuất Ôzôn là một quá trình tương đối tốn kém. Vì vậy, việc đo kiểm khí Ôzôn một cách chính xác và tin cậy trong quá trình sản xuất và áp dụng trong các nhà máy xử lý nước là rất cần thiết để kiểm soát chất lượng nước và chi phí đầu vào. Thông thường trong quá trình phân tích, vận hành nhà máy hay hệ thống xử lý có thể kiểm soát theo tỷ lệ phần trăm (percentage), hay theo thể tích (by volume) của khí Ôzôn trong oxy. Tuy nhiên, các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật vận hành cũng cần phải biết tổng lưu lượng khối lượng dòng chảy của khí Ôzôn để đạt được hiệu suất hoạt động tối đa.

Việc lựa chọn loại đồng hồ đo lưu lượng khối lượng khí (gas mass flow meter) có độ chính xác cao cho mục đích này, đảm bảo quá trình khử khuẩn hoạt động hiệu quả hơn và kinh tế hơn Trong một nhà máy điển hình, đầu tiên là khí Ôzôn được tạo ra và sau đó được đưa vào quá trình lọc ở ba điểm khác nhau những nơi mà yêu cầu cần có một đồng hồ đo lưu lượng.
Ôzôn được sử dụng trước tiên để làm kết tủa trước khi vào quá trình lọc sơ cấp (primary filtration). Sau đó, nó được bơm vào với liều lượng thấp như là chất ôxi hóa. Cuối cùng, nó được áp dụng ở liều cao như là một chất khử khuẩn để khử các chất ô nhiễm có trong nước chẳng hạn như thuốc trừ sâu, sắt, asen, sulfua hiđrô (H2S), nitrit, và các chất hữu cơ phức tạp liên kết với nhau tạo ra "màu" của nước. Tại châu Âu, Liên minh châu Âu (EC) cũng đã có chỉ thị đòi hỏi việc loại bỏ các chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu hòa tan từ nước uống. Ôzôn là một giải pháp tuyệt vời để đáp ứng chỉ thị này.

mọi chi tiết xin liên hệ : công ty môi trường

dệt may thắng lợi

 
 

Thống kê

000501341
Today
Yesterday
This Week
This Month
492
558
1556
12906

Liên Hệ

Công ty Môi Trường Sông Hồng
Office: 44/20 Nguyễn Ảnh Thủ, P.Hiệp Thành, Quận 12, Tp.HCM
Tel: (08) 6.259.2053
Hotline: 0909.32.1616
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.