Có một giải pháp tự nhiên để xử lý dần tràn trong đất

Một công nghệ xử lý mới của Công ty Xử lý dầu quốc tế (OTI) của Thụy Sỹ thông qua Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia  vừa giới thiệu tới Việt Nam công nghệ xử lý dầu tràn trên biển và công nghệ phân hủy dầu thô trong đất bằng vi sinh.

Nếu được ứng dụng, 2 loại công nghệ này sẽ giải quyết đáng kể tình trạng dầu tràn ở một số vùng biển nước ta hiện nay.
Vậy công nghệ OTI cung cấp có gì đặc biệt ?

Công nghệ mà OTI cung cấp và giới thiệu vào thị trường Việt Nam đều là những giải pháp tự nhiên để làm sạch nước, đất và ô nhiễm công nghiệp do dầu tràn qua sự phân hủy sinh học. Vì vậy, cùng với quá trình xử lý dầu tràn hoặc dầu thô trong đất, các công nghệ này rất thân thiện với môi trường, vừa hiệu quả, giúp tiết kiệm chi phí trong bảo vệ môi trường do không phát sinh chi phí thừa. Chẳng hạn, để xử lý dầu tràn, có thể sử dụng sản phẩm LOT 11 của OTI, là một chất dạng bột, chỉ cần rải một lớp bột này lên mặt dầu tràn, qua tiếp xúc, dầu trên mặt biển sẽ chìm ngay xuống đáy biển và chỉ 2-3 tháng sau sẽ phân hủy hết. Đặc biệt, quá trình xử lý diễn ra hoàn toàn tự nhiên, không cần phải tập hợp dầu tràn vào một chỗ.

Không phát sinh chi phí thừa có thể hiểu là khách hàng không cần phải sử dụng bất cứ một giải pháp nào khác sau quá trình xử lý chất thải bằng công nghệ này. Ngoài ra, sản phẩm LOT 11 còn xử lý hiệu quả các vật liệu độc - phân hủy vi sinh dầu. Phần còn lại của chế phẩm có thể được đưa vào hệ thống nước thải công cộng để tận dụng tối đa hiệu quả. “Với những đặc điểm như vậy, chúng tôi đã sử dụng sản phẩm công nghệ này để kiểm soát vết dầu loang lớn tại Thái Lan năm 2002 với hơn 100.000 lít dầu loang, làm ô nhiễm trên 10 km chiều dài bờ biển Mea Ramphung phía Bắc của Bangkok”, TS. Alex Mojon, Giám đốc OTI nói.

 Môi chi tiết xin liên hệ công ty môi trường

Chất thải nguy hại được xử lý hoàn toàn bằng phương pháp nhiệt

Chất thải nguy hại phát sinh trong hoạt động hàng ngày và trong quá trình sản xuất ngoài việc được quản lý nghiêm từ khi mới phát sinh, trong quá trình vận chuyển và được xử lý triệt để theo đúng luật Môi trường.

Lò đốt BI250S do Vương quốc Bỉ sản xuất, có hệ thống xử lý khí thải đạt QCVN 30:2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải công nghiệp. Loại lò này có hệ thống kiểm soát khí thải, tất cả các thông số của khí thải được đo và hiển thị trên máy tính chủ. Vì vậy, có thể tự điều khiển hệ thống để đảm bảo chất lượng khí thải.

Chất thải nguy hại được thu gom từ các chủ nguồn thải sẽ được vận chuyển về trạm xử lý chất thải nguy hại và được phân loại, chuyển vào khu vực chờ đốt. Sau đó tùy từng loại được đổ vào phểu nạp để chuyển rác vào buồng đốt.

Buồng đốt sơ cấp dùng để hóa hơi chất thải rắn bằng nhiệt trong điều kiện thiếu oxy. Béc đốt phun lửa vào buồng đốt với một góc phun thích hợp nhằm cung cấp nhiệt cho quá trình đốt nóng này. Khi nhiệt độ trong lò tới 2500C thì quá trình carbon hóa bắt đầu xảy ra, cuối giai đoạn hóa hơi là giai đoạn đốt cháy lượng cặn carbon, nhiệt độ buồng sơ cấp tăng lên đến 9500C. Lúc này béc đốt sơ cấp không cần hoạt động nữa, nhiệt độ buồng sơ cấp sẽ được cung cấp bởi chính nhiệt lượng tỏa ra từ quá trình phản ứng nhiệt phân. Khi đó cần phải tiến hành nạp một mẻ mới vào lò. Thời gian giữa hai lần nạp được xác định trong quá trình vận hành thử và hiệu chỉnh lò.

Buồng đốt thứ cấp có nhiệm vụ đốt khí gas sinh ra từ buồng đốt sơ cấp. Khí gas được phối trộn với không khí cấp vào ở chế độ không khí dư để đảm bảo cháy hết. Nhiệt độ trong buồng đốt được duy trì 1.2000C trong thời gian 2 giây bởi 1 béc đốt luôn được kiểm tra nhờ 1 bộ đầu dò lắp cố định trong buồng đốt điều khiển sự làm việc của béc đốt nhằm đảm bảo nhiệt độ cháy trong lò ở giá trị mong muốn. Tại đây, các chất ô nhiễm sinh ra từ buồng đốt sơ cấp được xử lý hoàn toàn.

Những chất khí có thể cháy được phát sinh do nhiệt phân rác được trộn lẫn với luồng không khí thứ cấp được đưa vào phía trước lò và hoàn toàn được đốt cháy trong buồng thứ cấp. Sau khi ra khỏi buồng đốt thứ cấp, khí thải được xử lý trong tháp xử lý khí nhằm loại bỏ các tạp chất ô nhiễm trước khi thải ra ngoài ống khói. Tro được đưa qua cửa tháo tro và xả ra ngoài và được đưa vào bãi chôn lấp tro an toàn.

Xử lý nước thải từ nhà máy tinh bột mỳ

Là một trong những ngành kinh tế đang được đánh giá quan trọng của đất nước, song song với sự phát triển thì công nghiệp tinh bột sắn cũng tác động lớn đến ô nhiễm môi trường.

 

Trong đó ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là những nguồn nước xung quanh Nhà máy. Do các công nghệ sử dụng hầu hết đã lạc hậu, thiết bị cũ và không đồng bộ, định mức nước cho một đơn vị sản phẩm còn lớn, hiệu suất tận chiết bột còn kém, và do các nhà máy thường tập trung gần nội thành, gần khu dân cư nên ô nhiễm của ngành tinh bột sắn lại càng trở lên nghiêm trọng. Do vậy, việc áp dụng các biện pháp giảm thiểu và xử lý ô nhiễm nước thải ngành tinh bột sắn đang là một yêu cầu cấp bách cần được giải quyết nhằm đảm bảo phát triển một cách bền vững

Khối lượng nước được sử dụng trong quá trình sản xuất chủ yếu ở các công đoạn rửa củ, ly tâm, sàng loại sơ, khử nước. Lượng nước thải phát sinh nhà máy dự kiến có 10% bắt nguồn từ nước rửa củ và 90%xả ra từ công đoạn ly tâm, sàng lọc, khử nước thải.


Công đoạn chính là nước thải khoai mì được thải ra chủ yếu từ giai đoạn rửa củ và tách tinh bột . Loại nước thải này có đặc tính tương tự như đặc tính nước thải các ngành thực phẩm khác. Tức là trong thành phần của nước thải khoai mì chứa hàm lượng chất hữu cơ rất cao, độ đục cao do ảnh hưởng của cặn lơ lửng nên có khả năng gây ô nhiễm môi trường rất lớn.

Đặc biệt, trong nước thải khoai mì có chứa HCN là một acid có tính chất độc hại. Đây là chất hóa học trong khoai mì gây nên trạng thái say, ngộ độc khi ăn phải quá nhiều. Khi ngâm khoai mì vào nước một phần HCN sẽ vữa ra tan vào trong nước và theo nước thải ra ngoài. Đặc biệt trong quá trình hoạt động có sục khí SO2vào ở công đoạn trích ly, SO2 khi gặp nước sẽ chuyển hóa thành acid H2SO3 làm cho pH trong nước giảm xuống rất nhiều.

http://moitruongsonghong.com

Công nghệ xử lý khí thải từ nhà máy sản xuất cao su

Khí thải đặc biệt từ nhà máy cao su gây ra mùi hôi trong quá trình sản xuất cao su đang là mối quan tâm lo ngại sâu sắc đối với các nhà quản lý môi trường, các chủ sản xuất vì nó gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.

Do đó việc nghiên cứu, tìm ra giải pháp công nghệ thích hợp để xử lý hiệu quả khí thải đảm bảo các tiêu chuẩn cho phép khi thải ra môi trường đã được các công ty môi trường quan tâm gần đây.Trong đó việc xử lý khí thải trong quá trình sản xuất cao su trước khi thải vào nguồn tiếp nhận là một yêu cầu thiết yếu cho môi trường xung quanh.

Phân tích thành phần khí thải trong quá trình sản xuất cao su:
Vậy mùi hôi là do khí formaldehyde, khí Amoniac, các axit béo bay hơi thoát ra hóa chất dùng trong chống đông chính của quá trình sản xuất mủ kem diễn ra tại nhà máy.
Thêm nữa là khí acid sunfuaric trong quá trình làm đông tụ.
Ngoài ra còn ô nhiễm bụi, khí thải COX, NOX, SO2 của lò hơi trong quá trình lưu hóa cao su thoát ra ngoài.
Để xử lý thường thì khí thải từ nhà máy được các quạt hút thu gom, theo hệ thống đường ống đi vào thiết bị rửa khí tốc độ cao .
Bên trong thiết bị dòng khí bụi chuyển động với vận tốc cao đập vỡ nước thành các giọt cực nhỏ. Độ xoáy rối cao của dòng khí cộng thêm vận tốc tương đối giữa bụi và giọt lỏng lớn thúc đẩy quá trình lắng bụi trên các giọt lỏng.

Một số thông số:
- Áp suất không quá 500 N/m2
- Lượng nước: 0,5 – 8l/m3
Khí thải sau khi đi qua hệ thiết bị rửa khí , lượng bụi bẩn được giữ lại lên đến 99,5%. Sau đó khí thải tiếp tục đi lên tháp hấp phụ, cấu tạo tháp hấp phụ bao gồm các lớp vật liệu đệm, vật liệu hấp phụ và hệ thống phân phối dung dịch hóa chất hấp thụ được bố trí một cách hợp lý, đảm bảo hấp phụ hoàn toàn các thành phần ô nhiễm còn lại.
Để biết thêm chi tiết tại Xu ly khi thai

Xử lý nước thải bằng hợp chất Polimer

Chất Polymer là chất hổ trợ đông tụ dùng trong xử lý bùn, nước thải, ngành thủ công mỹ nghệ, ngành giấy, thức ăn gia súc....

Khi sử dụng chất keo tụ là các hợp chất polymer, nhờ cấu trúc mạch dài các đoạn phân tử polymer hấp phụ lên bề mặt keo, tạo ra cầu nối với nhau hình thành bông keo tụ có kích thước lớn hơn làm tăng tốc độ lắng của các hạt keo trong chất thải.

Quy trình tạo bông keo với các polymer nhờ cơ chế bắc cầu có thể thực hiện qua các bước sau đây:
- Vận chuyển polymer trong hệ tới bề mặt hạt.
- Hấp phụ polymer lên bề mặt hạt.
- Phân tán dung dịch polymer vào trong hệ huyền phù.
- Liên kết các hạt đã hấp phụ polymer với nhau.
Kết quả là quá trình keo tụ với polymer nhờ cơ chế bắc cầu, phụ thuộc vào trọng lượng phân tử polymer. Khi tăng trọng lượng phân tử, độ hòa tan của nó kém đi, dung dịch sẽ có độ nhớt cao hơn, liều lượng dùng tối ưu sẽ cao hơn, bông cặn tạo ra lớn hơn, quá trình lắng nhanh hơn.

Trong khi giá trị pH của môi trường cũng có ý nghĩa đáng kể với các polymer không ion, ảnh hưởng của pH không lớn lắm nhưng với các polymer anion ở pH cao và các polymer cation ở pH thấp sẽ ảnh hưởng tới quá trình ion hóa của chúng, dẫn tới ảnh hưởng đến quá trình tạo bông keo.
Ngoài ra cường độ ion trong hệ cũng có thể là tác nhân xúc tiến hay cản trở quá trình tạo bông keo.
Để được tư vần miễn phí tại : hệ thống xử lý nước thải

dệt may thắng lợi

 
 

Thống kê

000501338
Today
Yesterday
This Week
This Month
489
558
1553
12903

Liên Hệ

Công ty Môi Trường Sông Hồng
Office: 44/20 Nguyễn Ảnh Thủ, P.Hiệp Thành, Quận 12, Tp.HCM
Tel: (08) 6.259.2053
Hotline: 0909.32.1616
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.